Khó khăn nhất của team Lucas khi đi thực hiện các quy mô giao dịch lớn của các gia đình 2-3 thế hệ đó là – quy trình và thông lệ giao dịch bị độn chi phí lên cao.
Ba Huân là một ví dụ. Thương vụ 32,5 triệu đô với VinaCapital, năm 2018. Sáu tháng sau, đổ vỡ.
Không phải vì công ty làm ăn không tốt, Ba Huân khi đó vẫn dẫn đầu thị trường trứng gia cầm.
Mà do chi phí giao dịch cao:
Chi phí giao dịch ở đây không nằm ở phí luật sư hay phí tư vấn. Nó nằm ở chỗ hai hệ thống vốn hoàn toàn khác nhau bị ép ngồi chung một bàn, trong một khoảng thời gian quá ngắn để hiểu nhau.
Fact:
Có 70% doanh nghiệp gia đình không sống qua nổi đời thứ hai. Chỉ 12% chạm tới đời thứ ba.
Con số này có thể gây tranh cãi về độ chính xác. Nhưng có một con số khác, chắc hơn nhiều: 74% doanh nghiệp gia đình Việt Nam (đóng góp cỡ 25% GDP Vietnam), không có kế hoạch kế nhiệm bằng văn bản (PwC, 2023).
Không phải vì họ không nghĩ tới. Mà vì không ai muốn là người đầu tiên chính thức hóa một chuyện nghe có vẻ “xui xẻo”.
Rồi một ngày, có nhà đầu tư gõ cửa. Hoặc con cái chưa đủ sẵn sàng. Hoặc chính founder không còn đủ sức giữ ghế.
Lúc đó mới vỡ ra: công ty không hề sẵn sàng cho bất kỳ cuộc chuyển giao nào.
Đây là chỗ mình muốn nói tới relationship-based capitalism; đặc trưng vốn của phần lớn doanh nghiệp gia đình Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt Nam: Nền kinh tế “đang phát triển”, đang trên đường tiến tới một mô hình chuẩn hoá hơn, nhiều minh bạch hơn, cấu trúc rõ ràng hơn, ít quan hệ hơn.
Hiện tại: Việt Nam đang vận hành một mô hình khác, có logic riêng của nó, relationship-based capitalism.
Ba mươi năm đổi mới kinh tế, một lượng tài sản khổng lồ được tạo ra rất nhanh. Nhanh đến mức hạ tầng quản trị chưa kịp chạy theo.
Hệ quả ngược lại: Không có thời gian để xây đầy đủ hệ thống pháp lý, kế toán, quản trị công ty như những nền kinh tế có nhiều thời gian để làm việc đó.
Vậy cái gì lấp đầy khoảng trống?
Quan hệ.
Quan hệ với ngân hàng để vay được vốn khi chưa đủ tài sản thế chấp chuẩn.
Quan hệ với chính quyền địa phương để công việc trôi chảy.
Quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng để giữ dòng tiền qua những giai đoạn khó khăn.
Không hợp đồng nào ghi hết được những thứ đó. Nhưng chúng vận hành, và vận hành hiệu quả, suốt mấy chục năm.
Từ đó sinh ra một loạt đặc điểm mà nhìn từ bên ngoài rất dễ bị đọc nhầm thành “chưa đủ chuẩn NDT tổ chức”:
Sở hữu chéo giữa các công ty trong cùng một gia đình, phổ biến hơn nhiều so với một cấu trúc holding company rõ ràng, mạch lạc.
Sổ sách phục vụ thuế và phục vụ quan hệ ngân hàng, không phục vụ chuẩn due diligence mà một nhà đầu tư tổ chức thật sự cần.
Người sáng lập (F1) vẫn là người quyết định cuối cùng, dù công ty đã có cả một đội ngũ quản lý được đào tạo bài bản.
Đặt hai hệ thống cạnh nhau sẽ thấy:
Vốn gia đình: uy tín xây bằng 20-30 năm, quyết định theo đồng thuận phi chính thức, sở hữu (owner/governance) và điều hành (management) không tách bạch, tin nhau bằng thời gian chứ không bằng hợp đồng.
Vốn tổ chức: Investment Committee (Hội đồng đầu tư), due diligence (quy trình thẩm định), data room (số liệu vận hành), định giá theo mô hình, thời hạn giao dịch nghiêm ngặt, exit được thiết kế sẵn từ đầu theo logic kỷ luật vốn.
Hai hệ thống này không phải một cái được định nghĩa là “cao cấp” và một cái “lạc hậu”.
Mà thực ra là chúng tối ưu cho hai thứ khác nhau.
Vốn tổ chức tối ưu cho tốc độ, minh bạch, khả năng nhân rộng.
Vốn gia đình tối ưu cho khả năng sống sót qua biến động, dựa trên thứ không ai sao chép được trong một sớm một chiều: niềm tin đã kiểm chứng qua thời gian.
Vấn đề chỉ nảy sinh khi hai hệ thống này gặp nhau mà không ai chịu học ngôn ngữ của bên còn lại.
Đôi khi vốn quan hệ cũng có thể tạo thuận lợi và cũng làm tăng chi phí giao dịch lên rất nhiều?!
Đó là điều khó khăn ở các giao dịch chuyên nghiệp ở Vietnam.
Bạn nghĩ mô hình vốn gia đình này còn giữ được bao lâu nữa ở Việt Nam, trước khi buộc phải chuyển hẳn sang mô hình tổ chức?
Comment cho mình biết nhé 😉
#equitix
#phunglelamhai
#lucas

